Điểm danh những môn võ tiêu biểu của Nhật Bản

     Võ thuật Nhật Bản có thể chia làm hai nhóm lớn – các kỹ thuật võ nghệ Cổ truyền được truyền lại qua nhiều thế kỷ và Võ đạo ngày nay, được tập như các môn thể thao. Cùng điểm qua những bộ môn tiêu biểu của nền võ thuật Nhật Bản để thấy nét đặc trưng của một nền văn hóa võ thuật.

 

Shorinji Kempo (Thiếu Lâm Nhật Bản)

     Shorinji Kempo do Michiomi theo học các kỹ thuật chiến đấu của các Võ tăng ở chùa Thiếu Lâm, một chùa Thiền Tông tại Trung Quốc, rồi phát triển các kỹ thuật này thành một môn võ công mới sau. Đệ nhị Thế chiến. Các võ sĩ dùng kỹ thuật liên quan đến tay chân như chưởng và cước.

 

vo-han

 

     Trong lúc luyện tập có dụng cụ bảo vệ thân thể và các võ sinh có thể tự do tấn công và tự vệ. Khi thi đấu, các võ sinh mặc võ phục như các vị sư Thiền Tông (vì việc luyện tập này được xem là một phần tu thiền) và chỉ biểu diễn cá thế Kata. Có khoảng 1.300.000 người Nhật và 150.000 người ở các nước khác luyện tập môn võ Thiếu Lâm Nhật Bản.

 

 

  

Aikido (Hiệp Khí Đạo)

     Hiệp Khí Đạo được Sáng tổ Ueshiba Morihei hệ thống hóa năm 1922 dựa trên những kỹ thuật của chi phái Daito Aiki (Đại Đông Hiệp Khí) của môn Nhu thuật. Mục tiêu là để chống trả một cuộc tấn công bằng chính sức mạnh của đối phương. Nhiều thế võ cần phải sử dụng tay chân như khóa ngoặc cổ tay, cùi tay, hoặc một khớp nào khác của đối phương, rồi ném hoặc đè anh ta xuống.

 

IMG_9268b1

 

     Những kỹ thuật này có thể gây nguy hiểm, vì thế khi luyện tập phải theo đúng trình tự quy định. Ít khi có những cuộc thi đấu. Hiệp khí đạo được nữ giới và những người lớn tuối yêu thích vì nó là một nghệ thuật tự vệ ít dùng sức. Có khoảng 600.000 người tại Nhật và 1.200.000 người tại nước ngoài luyện tập môn võ công này.

 

 

 

Karate (Không Thủ Đạo)

     Karate có cả các thế tấn công và tự vệ. Các kỹ thuật tấn công gồm có đánh, đấm và đá. Lại có những kỹ thuật phòng vệ tương ứng để đánh bạt những thế tấn công này. Hình thức thi đấu có thể là một loạt bài quyền Kata biểu diễn nhiều kỹ thuật khác nhau hoặc công thủ tự do. Một số võ đường Karate không tập một bài quyền Kata nào cả. Karate vốn là một môn quyền cước Trung Quốc được phát triển trên đất Nhật tại Okinawa.

 

karate

 

     Ngày xưa chỉ có người ở Okinawa luyện tập môn này. Sau cuộc Canh tân Minh Trị (1868) Karate được phổ biến khắp Nhật Bản và sau Đệ nhị Thế chiến, truyền đến các nước khác. Karate có hơn 3.000.000 môn sinh tại Nhật và khoảng 30.000.000 người trên khắp Thế giới.

 

 

  

Naginata (Múa Kích)

     Naginata (Kích) là một cây gậy dài có một lưỡi cong nhọn ở đầu. Ngày xưa nó được dùng trong chiến tranh, rồi được các bà trong các gia đình Samurai dùng để tự vệ vào thời Edo ( 1603 – 1867 ), vì đây là một môn võ thuật cần phải học của giai cấp này. Ngày nay, hầu như chỉ có phụ nữ tập môn này. Khoảng 55.000 người đã đạt một đẳng cấp nào đó trong môn thể thao này.

 

Naginata_sune

 

     Có hai loại thi đấu: Trong một loại, các đấu thủ đánh vào những vùng nào đó của đối phương thì được tính điểm. Những chỗ này được bảo vệ bằng mặt nạ, găng tay, và các giáp ở ngực, eo và ống chân. Còn trong loại kia, những người dự thi sẽ biểu diễn một số bài quyền Kata theo một trình tự quy định. Kích dùng trong thi đấu dài khoảng 215 đến 225 cm. Một điều chú ý khác là: Trong khi thi đấu, các võ sinh dùng kích có gắn lưỡi bằng tre còn trong các bài biểu diễn Kata thì dùng kích có gắn lưỡi làm bằng gỗ sồi.

 

 

  

Kendo (Kiếm Đạo)

     Kiếm đạo là một môn thể thao tranh tài. Đánh vào những vùng nào đó của đối phương thì được tính điểm, người thi đấu dùng một cây kiếm tre (shinai) dài tối đa 118 cm. Các kiếm sĩ dùng bốn loại dụng cụ để bảo vệ thân thể – một cái Men (Mặt nạ), một cái Do (Giáp ngực), hai cái Kote (vật bảo vệ bàn tay và ống tay), và một cái Tare (Giáp eo). Cũng như kiếm thuật phương Tây, kiếm thuật cổ truyền Nhật Bản đã trở thành một môn thể thao hiện đại. Các kiếm sĩ Tây phương cầm kiếm thép bằng một tay, còn các kiếm sĩ Nhật cầm kiếm tre Shinai bằng cả hai tay.

 

kendo_japanese_martial_art_20131030_1979417472

 

     Người Nhật thích Kiếm đạo cũng như Nhu đạo, vì thế môn này có khoảng hai triệu môn sinh. Cũng như Nhu Đạo, kiếm đạo là một trong chương trình giáo dục học đường và thường được luyện tập như một hoạt động ngoại khóa. Liên đoàn kiếm đạo quốc tế được thành lập năm 1970 và hiện có khoảng 8 triệu người luyện tập kiếm đạo ngoài Nhật Bản.

 

 

 

Judo (Nhu Đạo)

     Năm 1882, Kano Jigoro sáng lập môn Nhu đạo dựa trên môn Jujutsu (Nhu thuật) cổ truyền. Nhu Đạo là một hình thức chiến đấu không dùng vũ khí, chế ngự đối phương bằng những kỹ thuật như ném, đè, nắm chặt, hoặc khóa các khớp xương. Điểm khác biệt lớn nhất giữa Nhu Đạo và Nhu thuật là, trong Nhu thuật, các đấu thủ được phép đấm, đá và xô đối phương, trong khi ở Nhu đạo những động tác này bị cấm vì nguy hiểm.

 

olympic-judo-blue-white-gi

 

     Nhu đạo trở thành một môn Thể thao Olympic năm 1964, đúng dịp Thế vận hội 1964 tại Tokyo. Khoảng 1,5 triệu người Nhật có đẳng cấp và có chừng 20 triệu người luyện tập nhu đạo trên khắp thế giới.

 

 

 

 

Sumo

     Sumo (相撲, すもう, sūmo)là một môn võ cổ truyền của Nhật Bản. Hai lực sĩ Sumo sẽ phải đấu với nhau trong một vòng tròn gọi là dohyo (土俵) có đường kính khoảng 4,55 mét (hay 15 shaku theo đơn vị đo chiều dài ở Nhật Bản). Lực sĩ nào bị ngã trong vòng tròn trước hay bị đẩy khỏi vòng tròn trước là người thua cuộc.

 

 

Cấp bậc của lực sĩ Sumo chuyên nghiệp

     Yokozuna (横綱): cấp cao nhất. Ozeki đúng ra là tước hiệu. Có một hội đồng do Hiệp hội Sumo Nhật Bản chỉ định sẽ xem xét và phong các lực sĩ cấp bậc Ozeki lên cấp bậc cao nhất này.
     Ozeki (大関): cấp bậc phong cho các lực sĩ bậc Sekiwake từng thắng khoảng 33 trận hay đoạt chức vô địch ba mùa đấu Sumo liên tục. Trong trường hợp hai giải đấu liên tiếp, Ozeki có số trận thắng ít hơn số trận thua sẽ bị mất cấp bậc này và trở về cấp bậc Sekiwake. Trước khi có cấp bậc Okozuna, thì Ozeki là cấp bậc cao nhất trong Sumo.
     Sekiwake (関脇): là cấp bậc phong cho các lực sĩ Komusubi liên tục trong nhiều mùa giải có số trận thắng nhiều hơn số trận thua trong mỗi mùa hoặc có một mùa giải có số trận thắng rất nhiều (thường là 10 trận thắng trở lên). Nếu đang là Sekiwake mà có một mùa giải có số trận thắng ít hơn số trận thua, lực sĩ sẽ bị mất cấp bậc này và trở về cấp bậc Komusubi.
     Komusubi (小結): là cấp bậc phong cho lực sĩ Maegashira nào có 10 hay 11 trận thắng hay thắng một lực sĩ có cấp bậc cao hơn mình.

     Ozeki, Sekiwake và Komusubi tạo thành nhóm lực sĩ Sanyaku (三役).

     Maegashira: là cấp bậc thấp nhất trong nhóm lực sĩ năm cấp Makuuchi (幕内) (bốn cấp cao hơn gồm cấp cao nhất Yokozuna và ba cấp trong Sanyaku).

     Các lực sĩ trong nhóm Makuuchi thi đấu riêng trong một giải đấu 15 trận. Theo quy định từ năm 2004 của Hiệp hội Sumo Nhật Bản, nhóm Makuuchi chỉ có 42 lực sĩ.

     Juryo: là cấp bậc của các võ sĩ chưa lọt được vào nhóm Makuuchi. Các lực sĩ Juryo được phép tham gia thi đấu các giải chuyên nghiệp 15 trận, nhưng đấu riêng giữa họ với nhau. Trong trường hợp một lực sĩ trong nhóm Makuuchi bị chấn thương phải từ bỏ giải đang đấu, thì Lực sĩ Juryo có thành tích tổt nhất có thể được phép lên đấu cùng nhóm Makuuchi. Thấp hơn cấp Juryo chỉ còn những người đang học Sumo./.

 

 

(Nguồn: Du học Nhật Bản YOSAKOI sưu tầm)