NÉT ĐẶC SẮC CỦA KỊCH KABUKI – MỘT NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG NỔI TIẾNG CỦA NHẬT BẢN

 

                Nhắc đến Nhật Bản, rất nhiều người đã nghe nói đến kịch Kabuki, một loại hình sân khấu truyền thống của Nhật Bản. Tuy nhiên, kịch Kabuki nghĩa là gì, nó có lịch sử hình thành ra sao…không phải ai cũng nắm được. Mời các bạn cùng Công ty du học Nhật Bản YOSAKOI tìm hiểu những nét đặc sắc của kịch KABUKI qua bài viết dưới đây.

                Kabuki (歌舞伎) trong tiếng Hán được hiểu theo nghĩa là "Ca Vũ Kỹ", "Ca" là ca hát, "vũ" là múa và "kỹ" là kỹ năng, kabuki hiểu nôm na là "kỹ năng múa hát". Trong tiếng Nhật, “Kabuki” vốn có  nguyên động từ kabuku; có nghĩa là tạo phong thái hào nhoáng thu hút sự chú ý, hay có những lời nói, hành động khác bình thường. Vào những năm của triều Keichō,chuyển giao sang đầu thời kì Edo, xuất hiện những kẻ vô công dồi nghề, mặc trang phục dị thường đi lại trên đường với những hành vi kì quặc, mọi người đã gọi họ là “bọn kabuki”. Những điều kì quặc hay hành động khác lạ chính là những đặc trưng không thể thiếu trong kabuki.

 

 

              Về lịch sử hình thành Kabuki ra đời vào đầu thế kỷ 17, sau đó trở thành một loại hình kịch nghệ được ưa chuộng nhất trong thời kỳ Edo (1603-1868), và cũng là một trong 3 loại hình nghệ thuật sân khấu chính của Nhật Bản, cùng với kịch No và kịch rối bunraku. 

Cuối thế kỷ 17, sự hâm hộ dành cho Kabuki giảm sút bởi vì kịch rối bunraku thăng hoa. Đến nửa đầu thế kỷ 18, bunraku bị sa sút nhanh chóng ở khu vực Kamigata (xung quanh khu vực Osaka) nên kabuki nắm ngay lấy cơ hội này giành lại sự ủng hộ của tầng lớp thị dân. Hiện nay, đến một nửa các vở kịch Kabuki mô phỏng các vở kịch rối bunraku. Vào đầu thời kỳ Minh Trị đã xuất hiện một thể loại kabuki gọi là zangiri-mono, với những nhân vật như: binh sĩ thường mặc quân phục kiểu phương Tây và các nhân vật onnagata mặc váy đầm song không thu hút được khán giả.

 

 

              Người ta cho rằng sư tổ của loại hình nghệ thuật kabuki là bà Izumo-no-okuni, nhân vật theo sử sách đứng đầu một nhóm gồm hầu hết là phụ nữ. Bà sáng tạo ra kabuki dựa trên loại kịch No (một loại hình kịch cổ mang mặt nạ của Nhật Bản) và Hu-ryu (hoạt động trong lễ hội phát sinh từ những sự bất mãn trước những cuộc chiến tranh vào cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17, có nét đặc trưng mạnh mẽ, hoa mỹ, nhằm quên đi sự đau khổ). Sự hấp dẫn mạnh mẽ của “onna kabuki”, tức “kabuki nữ” mà bà Okuni đã quảng bá rộng rãi, chủ yếu nhờ điệu múa tình tứ và những cảnh đầy gợi cảm trong các vở kịch. Thời tướng quân Tokugawa, phụ nữ đã bị cấm xuất hiện trong vở kịch kabuki, kabuki cũng bị cấm biểu diễn với lý do là gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, ngay sau đó, wakashu kabuki, tức là “kabuki nam diễn viên trẻ”, thành công vang dội trước khi bị cấm vào năm 1652. Trong những năm đầu hình thành nên nó, những yếu tố quan trọng của các loại hình sân khấu khác, chủ yếu là No và kịch rối bunraku và kyogen, được đưa vào kabuki. Kabuki đã phát triển và trở thành một hình thức nghệ thuật mới.

ð Sân khấu dùng cho kabuki vốn lấy nguyên mẫu từ sân khấu kịch No nhưng sau đó được chỉnh sửa bằng cách gắn thêm màn kéo, bỏ mái đi trở thành kiểu sân khấu hanamichi.

ð Những lời thoại đơn giản mượn từ các vở kịch No, kyogen, kiểu kể chuyện jo-ruri, dần được thay thế bởi những tác phẩm viết riêng cho kabuki.

ð  Nội dung dài hơn, có nhiều vai diễn hơn và cách diễn xuất của diễn viên cũng trở nên đa dạng và tinh tế hơn.

 

               Trải qua lịch sử tồn tại khoảng 400 năm, gần như mọi vở kịch dài đều được chia làm 5 màn: Màn mở đầu gọi là jo, mào đầu chậm mang tính chất giới thiệu với khán giả về các nhân vật và kịch bản. Ba màn sau gọi là ha, tiết tấu được đẩy nhanh hơn, tình huống chuyện được đẩy lên cao độ đầy kịch tính và đầy chất bi kịch trong màn ba hay bốn và có thể có một trận đánh ở màn hai hoặc bốn. Màn cuối, gọi là kyu, thường có thời lượng rất ngắn và một kết thúc nhanh và có hậu.

 

              Kể từ khi xuất hiện đến nay Kabuki đã có lịch sử 400 tuổi. Kabuki được chia thành làm 2 thể loại kịch chính. Đầu tiên là Jidaimono (kịch lịch sử), đề cập đến các mốc sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng trước thời Edo của Nhật. Thể loại kịch thứ hai là Sewamono,mô tả cuộc sống của thị dân, nông dân trong thời Edo. Chủ đề của Sewamono là những chuyện gia đình hoặc chuyện tình cảm lãng mạn.

 

             Hóa trang: Có 3 cách hóa trang điển hình thể hiện 3 dạng nhân vật trong Kabuki:

Có ba dạng nhân vật chính trong Kabuki bao gồm : Tachiyaku – nhân vật nam trẻ thường đại diện cho người tốt, Katakiyaku – kẻ xấu, chuyên làm những điều ác và Onnagata – các nhân vật nữ. Mỗi dạng nhân vật sẽ trang điểm khác nhau để làm nổi bật lên từng tính cách đặc trưng trong vai diễn.

ð Nhân vật nam trẻ thường đại diện cho người tốt được gọi chung là Tachiyaku

ð Katakiyaku đại diện cho những kẻ xấu, chuyên làm điều ác

ð Onnagata, tức là các nhân vật nữ.

ð còn có một dạng nhân vật gọi là Kumadori, với cách hóa trang có nhiều đường viền màu đỏ trên khuôn mặt tượng trưng cho các dũng tướng, anh hùng lỗi lạc.

ð Ngoài ra một số kiểu hóa trang  khác như: mặt xanh thể hiện các linh hồn, mặt nâu hay xám thể hiện vai diễn con vật, ma quái

 

Các kiểu trang điểm trương gương mặt của nghệ sĩ Kabuki

 

 

                Trang phục cũng là một trong những yếu tố góp phần tạo nên nét đặc biệt của môn nghệ thuật Kabuki này. Đó là sự kết hợp giữa chiếc Kimono của phụ nữ được vẽ, thêu, hoặc in hoa văn còn trang phục chiến trận của những người đàn ông và những biểu tượng của gia đình nghệ sĩ.

 

 

Nét đặc trưng của Kabuki là Mie, điệu bộ của nhân vật. Điệu bộ trên thể hiện những cảm xúc mãnh liệt của nhân vật, thường được dùng lột tả sự tức giận nhưng cố kìm nén. Những cảnh diễn Mie luôn là những cảnh diễn cao trào của vở kịch và được khán giả yêu thích.

 

              Kabuki ngày nay:

Ngày 24/11/2005,  UNESCO đã công nhận Kabuki là Di sản Văn hóa Phi vật thể Truyền khẩu của nhân loại. Hàng năm, có rất nhiều cuộc hội thảo nói về nghệ thuật kịch Kabuki này được tổ chức, thậm chí, ở nhiều nước phương Tây, có một số tổ chức chuyên nghiên cứu về Kabuki đã ra đời.

Bằng sự kết hợp giữa nghệ thuật diễn xuất, múa và âm nhạc, Kabuki là một môn nghệ thuật hết sức độc đáo và hiện nay được công nhận là một trong những loại hình kịch nghệ thuật truyền thống vĩ đại của thế giới.

 

Để tìm hiểu thêm các phong tục tập quán cũng như các lễ hội khác ở Nhật bản, du học nhật bản YOSAKOI sẽ chia sẻ cùng các bạn về du học Nhật Bản 2016 tại công ty.